San ủi mặt bằng trang trại mà vẫn giữ được lớp đất mặt nghĩa là làm ba bước tách bạch: bóc lớp đất mặt ra đánh đống riêng, san và đầm phần đất cái bên dưới cho đúng cao độ, rồi trải lớp đất mặt trở lại lên những khu sẽ trồng. Ủi thẳng một lượt cho phẳng thì nhanh, nhưng lớp đất tốt nhất bị vùi xuống dưới hoặc dồn hết về một góc, khu trồng còn lại toàn đất cái khó làm.
Lớp đất mặt thường chỉ dày khoảng một vài tấc tuỳ nơi, là nơi tập trung chất hữu cơ, rễ cây và sinh vật đất. Mất nó thì phải mất nhiều năm bón và che phủ mới gây lại được. Bài này đi qua cách xác định có cần san không, cách tính khối lượng đào đắp để đất không phải chở đi chở về, trình tự làm với máy ủi, máy đào, và những chỗ không nên san.
Có thật sự cần san phẳng cả thửa không
Câu hỏi đầu tiên không phải là san thế nào mà là san ở đâu. Phần lớn các loại trại không cần cả thửa phẳng như sân bóng. Cây lâu năm trồng được trên đất hơi dốc, rau màu chỉ cần từng luống bằng, còn những chỗ thật sự cần mặt phẳng là nền chuồng, nền kho, nhà sơ chế, sân phơi, đường nội bộ và bãi quay xe. Đất hơi nghiêng còn giúp nước mưa tự thoát, điều mà mặt bằng phẳng tuyệt đối lại phải làm thêm rãnh.
Vì vậy, nên bắt đầu từ sơ đồ phân khu: khoanh những ô cần mặt phẳng, xác định cao độ mong muốn của từng ô, rồi chỉ san những ô đó. Phần còn lại giữ địa hình gần tự nhiên, chỉ sửa những chỗ lồi lõm cục bộ. Cách làm này giảm giờ máy, giảm khối lượng đất phải di chuyển, và giữ được nhiều đất mặt hơn. Thiết kế phân khu chi tiết là việc của khâu thiết kế mặt bằng; ở khâu san ủi, bạn chỉ cần biết chắc ô nào cần phẳng, phẳng tới mức nào. Một ví dụ giả định: trên thửa ba héc ta trồng cây ăn trái kết hợp vài dãy chuồng gà, phần thật sự cần san có thể chỉ là nền chuồng, nền kho, sân và con đường dẫn vào, một phần nhỏ so với cả thửa.
Trình tự san ủi giữ lớp đất mặt
Trình tự này áp dụng cho từng ô cần san. Với thửa lớn, làm cuốn chiếu từng ô thay vì bóc đất mặt cả thửa một lúc.
- Cắm cọc ranh ô cần san và cọc cao độ; đánh dấu chỗ để đống đất mặt, chọn chỗ cao ráo, không nằm trên đường nước, không cản lối máy.
- Đào thử vài hố nhỏ để thấy lớp đất mặt dày bao nhiêu: đất mặt thường sẫm màu, tơi, nhiều rễ, chuyển sang đất cái sáng màu, chặt hơn.
- Cho máy bóc đúng độ dày lớp đất mặt, đẩy về đống riêng; không bóc sâu lẫn đất cái vào.
- San phần đất cái: đào chỗ cao, đắp chỗ thấp, đắp từng lớp mỏng và đầm kỹ từng lớp, nhất là ở chỗ sẽ đặt công trình.
- Kiểm tra cao độ và độ dốc thoát nước của ô bằng thước, ống nước thông nhau hoặc máy đo nếu có thợ đo.
- Với ô sẽ trồng, trải đất mặt trở lại thành lớp đều; với ô làm nền công trình, đất mặt dùng cho khu trồng khác, không đặt dưới móng.
- Che phủ hoặc gieo cây phủ đất ngay lên lớp đất mặt vừa trải để mưa không cuốn đi.
Đống đất mặt chờ trải lại không nên để quá lâu và không nên đánh quá cao, vì phần lõi đống bị nén và thiếu khí lâu ngày sẽ kém đi. Nếu buộc phải để qua mùa mưa, hãy gieo cỏ hay cây phủ lên đống.
Tính khối lượng đào đắp để cân đất tại chỗ
Nguyên tắc tiết kiệm nhất là để đất đào ra ở chỗ cao vừa đủ đắp chỗ thấp ngay trong thửa, gọi là cân bằng đào đắp. Ví dụ giả định dưới đây cho một ô nền kho để bạn thấy cách tính, không phải số đo thật của một thửa nào.
| Bước (ví dụ giả định) | Cách làm | Kết quả minh hoạ |
|---|---|---|
| Chia lưới | Chia ô nền thành các ô vuông bằng nhau, cắm cọc ở mỗi góc | Ô nền chia thành nhiều ô nhỏ cạnh bằng nhau |
| Đo chênh cao | Đo mỗi cọc cao hay thấp hơn cao độ thiết kế bao nhiêu | Góc cao phải đào, góc thấp phải đắp |
| Tính từng ô | Lấy trung bình chênh cao bốn góc nhân diện tích ô | Ra khối đào hoặc khối đắp của ô đó |
| Cộng lại | Cộng riêng tổng khối đào và tổng khối đắp | So hai tổng với nhau |
| Hiệu chỉnh | Đất đắp phải đầm nên cần nhiều hơn thể tích hình học | Cộng dư thêm phần đất cho đầm chặt |
| Điều chỉnh cao độ | Nếu đào thừa nhiều, nâng nhẹ cao độ thiết kế; nếu thiếu, hạ xuống | Đào và đắp gần cân nhau |
Phép tính này thô nhưng đủ để tránh hai cái sai tốn kém: phải chở đất từ ngoài vào để đắp, hoặc phải tìm chỗ đổ đất thừa. Với nền công trình lớn hay địa hình phức tạp, thuê người đo đạc lập cao độ sẽ chính xác hơn; con số thợ đo đưa ra vẫn nên được bạn hiểu theo đúng logic trên.
Đầm đất đắp: chỗ nào cần, đầm thế nào
Nền công trình cần đầm kỹ nhất. Đất đắp dưới chuồng, kho, sân phơi nếu không đầm sẽ lún không đều, sàn nứt, nước đọng. Đắp từng lớp mỏng, mỗi lớp đầm bằng máy đầm hoặc cho máy chạy đi chạy lại nhiều lượt.
Đất phải có độ ẩm vừa phải. Đất quá khô đầm không chặt, đất quá ướt thì bết và trồi lên. Nắm một nắm đất, bóp thành viên mà không chảy nước và không vỡ vụn là dấu hiệu dễ nhận biết.
Không đắp bằng rác, gốc cây, thực bì. Vật hữu cơ mục đi sẽ để lại khoảng rỗng, mặt đất sụt dần nhiều năm. Đất đắp nền phải là đất sạch.
Khu trồng không cần đầm chặt. Ngược lại, khu trồng cần đất tơi. Hạn chế cho máy chạy trên khu này; nếu đã bị nén, cày xới sâu trước khi trải đất mặt.
Theo dõi lún. Cắm cọc mốc ở chỗ đắp dày, đo lại sau mùa mưa. Lún nhiều thì đắp bù, đầm thêm trước khi làm móng.
Những chỗ không nên san
Có những phần của thửa đất mà san phẳng gây hại nhiều hơn lợi. Giữ nguyên hoặc chỉ sửa nhẹ những chỗ dưới đây:
- Đường nước tự nhiên: khe, rãnh nơi nước mưa chảy qua mỗi năm; lấp đi thì nước tìm đường khác, thường là qua nền công trình hoặc sang đất hàng xóm.
- Mép dốc, mép suối, bờ ao: san sát mép làm mất chân đỡ, dễ sạt.
- Chỗ trũng tự nhiên ở cuối dốc: có thể giữ làm chỗ lắng nước, hố trữ nước mưa thay vì lấp.
- Vùng rễ của cây đã quyết định giữ: đắp đất lên gốc hay bóc đất quanh rễ đều có thể làm cây chết dần.
- Bờ ranh với hàng xóm: hạ hay nâng cao độ sát ranh làm thay đổi đường nước của họ, dễ thành tranh chấp.
Thay đổi cao độ lớn, nhất là gần kênh, đường, hay khi lấp chỗ trũng có nước chảy qua, nên hỏi UBND xã trước. Việc thay đổi mặt bằng đất có thể chịu quy định riêng tuỳ loại đất, kiểm quy định hiện hành.
Dấu hiệu đang san ủi sai cách
Chủ trại không cần biết lái máy, nhưng nên nhận ra những dấu hiệu dưới đây khi đứng xem máy làm, để dừng kịp trước khi hỏng cả ô đất:
- Đống đất mặt không lớn lên: máy đã chạy cả buổi mà đống đất mặt vẫn nhỏ, nghĩa là đất mặt đang bị ủi lẫn đi chỗ khác.
- Mặt ô toàn đất sáng màu, chặt, có sỏi: đất cái đã lộ ra ở khu sẽ trồng mà không có kế hoạch trải lại.
- Đất đắp đổ thành đống cao rồi mới gạt: không đắp từng lớp thì không đầm được phần dưới.
- Máy chạy qua lại trên khu trồng: vệt bánh xích hằn sâu, đất bị nén thành mảng cứng.
- Rãnh tự nhiên đã bị lấp mà chưa có rãnh thay: trận mưa tới sẽ tìm đường qua chỗ thấp nhất mới tạo ra.
- Đất đẩy tràn sang bờ ranh hoặc xuống mương chung: chuyện với hàng xóm bắt đầu từ đây.
Thấy một trong những dấu hiệu đó, dừng máy và nói chuyện ngay, kể cả khi đang trả theo giờ. Một giờ máy dừng rẻ hơn nhiều so với việc làm lại cả ô hoặc mất lớp đất mặt.
Mấy tháng đầu sau san ủi
Mặt bằng vừa san là mặt bằng yếu nhất. Đất đắp chưa lún hết, đất mặt vừa trải còn tơi, rãnh thoát nước chưa được thử. Trận mưa lớn đầu tiên là phép thử thật: đi một vòng ngay sau mưa, xem nước chảy về đâu, chỗ nào đọng, chỗ nào xói thành rãnh nhỏ, đống đất mặt có bị cuốn không. Ghi lại và sửa ngay trong những ngày nắng kế tiếp, khi chỗ xói còn nhỏ.
Trong mấy tháng này, che phủ là việc quan trọng nhất ở khu trồng. Lớp đất mặt trải lại mà để trần sẽ mất nhanh nhất ở những chỗ dốc nhẹ mà người ta thường nghĩ là an toàn. Ở khu nền công trình, đo lại các cọc mốc lún; ở đường nội bộ, rải một lớp đá hoặc sỏi ở những đoạn lầy để xe vào được mùa mưa. Đây cũng là lúc nên ghi lại cao độ thực tế của từng ô sau khi đất đã ổn định, làm tư liệu cho người thiết kế công trình.
Máy ủi hay máy đào: chọn máy theo việc
Máy ủi mạnh ở việc đẩy đất trên quãng ngắn và gạt phẳng diện rộng, nên hợp với bóc đất mặt trên đất tương đối bằng và san các ô lớn. Máy đào linh hoạt hơn ở đất dốc, chỗ chật, đào chỗ cao đổ chỗ thấp trong tầm cần, đào rãnh, và nhổ gốc. Nhiều thửa đất cần cả hai: máy đào làm phần đào sâu, gốc cây, rãnh, mép dốc; máy ủi làm phần gạt rộng.
Khi chở đất xa trong thửa, ví dụ đắp một nền cách chỗ đào khá xa, thêm xe ben hoặc xe cày kéo rơ moóc thường kinh tế hơn bắt máy ủi đẩy đất cả quãng dài. Chuyện thuê máy, tính theo giờ hay khoán, giao việc và nghiệm thu được bàn riêng ở bài thuê máy. Ở đây chỉ cần nhớ: chọn máy theo việc, và đừng để một chiếc máy làm mọi việc chỉ vì nó đã có sẵn trên đất. Máy càng lớn càng nén đất nhiều, nên với khu trồng, máy nhỏ đi ít lượt thường tốt hơn máy lớn đi nhanh.
Câu hỏi thường gặp
Lớp đất mặt dày bao nhiêu thì nên bóc riêng?
Không có con số chung; đào vài hố nhỏ để thấy chỗ đất sẫm màu, tơi, nhiều rễ chuyển sang đất sáng màu và chặt hơn. Phần sẫm màu đó là lớp cần giữ, dù chỉ dày vài tấc.
Đống đất mặt để chờ bao lâu thì vẫn dùng tốt?
Càng ngắn càng tốt. Đống thấp, rộng, có cây phủ thì giữ chất lượng lâu hơn đống cao nén chặt. Nếu phải để qua mùa mưa, gieo cỏ hoặc cây phủ đất lên đống để giữ đất và giữ sự sống trong đất.
San mặt bằng có làm mất độ màu của đất không?
Nếu ủi lẫn đất mặt xuống dưới hoặc bóc đem đi thì có, và mất khá lâu mới gây lại được. Bóc riêng, trải lại lên khu trồng và che phủ ngay thì phần lớn độ màu được giữ.
Có cần thuê người đo cao độ trước khi san không?
Với vài ô nhỏ trên đất tương đối bằng, ống nước thông nhau và cọc mốc là đủ. Với nền công trình lớn, đất dốc phức tạp hay khi cần tính khối lượng chính xác để khoán, thuê người đo sẽ đỡ cãi nhau về sau.
Đất thừa sau khi san có được bán đi không?
Không nên coi đó là nguồn thu. Đất mặt là tài sản của trại, còn việc đào và bán đất có thể chịu quy định về khoáng sản và bảo vệ đất. Đất thừa nên dùng đắp bờ, nền, đường trong chính thửa.
San xong bao lâu thì đổ nền chuồng, kho được?
Phần đất nguyên không đắp có thể làm sớm. Phần đất đắp nên đầm kỹ và theo dõi qua một mùa mưa. Nếu không chờ được, hỏi người có chuyên môn xây dựng để chọn kiểu móng hợp với đất đắp.